Các bài thuốc thuốc từ cây hành ta

Hành ta là gia vị của nhiều món ăn, là vị thuốc giàu dược tính. Theo Y học cổ truyền, hành ta vị thuốc còn gọi thông bạc, vị cay, khí ấm, tính bình, tác dụng giải biểu, hòa trung, sát trùng, thông kinh, lợi tiểu... trị chứng thương hàn, phong nhiệt, đau đầu, phong tê thấp... Hành hoa thuận khí an thai, chi huyết hòa trung, ích 5 tạng, giải được thuốc nóng, cá thịt độc...

Tài liệu còn cho biết hành có chứa protein, chất béo, chất xơ, canxi, phospho và kali, caroten, alixin và đặc biệt hành có công năng kháng vi khuẩn, virut, nấm trong cơ thể. Hành giàu vitamin và khoáng chất, ít năng lượng. Người bị cảm cúm, tim mạch, huyết áp, đái tháo đường, viêm nhiễm, béo phì thừa cân, ngoại cảm phong hàn, nội thương thấp trệ đều có thể dùng hành...

Chữa phụ nữ có thai bị cảm (cảm lạnh, cảm cúm, ho thở, nhiều đàm, tâm phiền bứt rứt): hành hoa cả cây 30g, hoặc thêm vỏ quít (trần bì) 12g. Sắc nước uống ấm.

Chữa phụ nữ động thai (đau bụng dưới, mỏi thắt lưng, có khi ra dịch màu hồng nhạt): hành hoa cả rễ một nắm 40g, nấu nước uống.

Cháo hành gừng tía tô trị cảm cúm.

Chữa chóng mặt: biểu hiện khi nằm cũng chóng mặt do đàm thấp huyết ứ. Dùng hành xào giá đậu thịt heo hoặc các món ăn khác cho nhiều hành mà ăn.

Chữa đái tháo đường (người đái tháo đường mà tay chân tê lạnh): ăn các món xào, nấu canh, nấu súp, hủ tiếu, phở, cháo nên cho hành nhiều hành.

Chữa đau tức ngực sườn do tâm thống huyết ứ (hay đau tức ngực, khó thở hồi hộp...): hành hoa, hoặc hành củ xào, luộc, ăn tuần vài lần.

Chữa tắc tia sữa (tắc tia sữa, vú sưng đau): hành hoa một nắm 40g. Sắc nước uống.

Chữa bí tiểu (tiểu khó phải rặn mải mới ra vài giọt, bụng tức): hành cả cây giã xào nóng đắp chườm bụng dưới cho ấm vào trong, kết hợp sắc nước cho uống rất hay.

Chữa chứng âm hư ngoại cảm (người gầy gò, sợ gió không ra mồ hôi, cảm ho): hành 20g, đậu xị 12g, cát cánh 10g, sinh khương 6g, thục địa 16g, mạch môn 10g. Sắc uống ấm.

Chữa cảm cúm thông thường (đau đầu nghẹt mũi, không ra mồ hôi): hành hoa, tía tô, gừng tươi nấu cháo ăn đắp chăn cho ra mồ hôi.

Chữa mụn nhọt: dùng hành củ nướng chín giã nát đắp vào mụn nhọt khi còn nóng.

Chữa đau bụng do giun (đau cơn, buồn nôn có khi nôn ra giun): hành tươi 40g giã vắt nước cốt trộn dầu mè cho uống.

Kiêng kỵ: Hành vị cay khí ấm giải biểu ra mồ hôi, vì vậy người nội nhiệt, ra nhiều mồ hôi, đau mắt đỏ, đau đỉnh đầu miệng khô khát, mặt đỏ, tiểu vàng, đại tiện khó, hạn chế dùng hành hoặc dùng hành nên kết hợp nhiều món ăn vị thuốc khác.

Lương y Minh Phúc

Mướp đắng làm giảm nồng độ men gan

Sở dĩ mướp đắng có tác dụng này là vì: mướp đắng có rất nhiều nước, nước có công dụng chuyển chất độc tới thận để thải ra ngoài. Mướp đắng lại có tính hàn, bớt sinh nhiệt, giảm nhiễm độc do nóng trong. Mướp đắng còn có tác dụng tăng cường chức năng gan, nên tăng khả năng thanh thải cho cơ thể. Mướp đắng còn có kháng sinh tự nhiên, nên có khả năng tiêu diệt các mầm bệnh gây độc.

Mướp đắng giàu chất xơ có tác dụng kích thích vận động đường mật nên tốt cho tiết mật. Mướp đắng còn có tác dụng làm giảm nồng độ các men gan viêm như: AST, ALT (sự gia tăng các men này là một dấu hiệu cho tế bào gan đang bị viêm nặng). Mướp đắng còn được thực nghiệm chứng minh làm giảm nồng độ bilirubin trong máu (tăng bilirubin là một biểu hiện chứng tỏ gan chuyển hóa kém, đường mật đang bị tắc).

Vì thế mà mướp đắng là một loại quả rất tốt để điều trị các bệnh gan mật có tác dụng lợi gan, lợi mật nên mẹ bạn hoàn toàn có thể sử dụng.

Cỏ mật cá giải độc

Cỏ mật cá còn có tên khác là mật đất, thằm ngăm đất, sản đắng, người Thái gọi là co kham đin... thuộc họ hoa mõm sói. Là loài cây thân cỏ, sống hằng năm cao khoảng 20cm, phân rất nhiều nhán. Lá mọc đối, có khía răng, cuống dài, có rìa cánh. Hoa mọc thành chùm ở kẽ lá. Quả nang dẹt, nằm trong đài còn lại, trông giống con hến. Hạt hình trụ, màu vàng, hơi thắt ở giữa. Toàn cây có vị rất đắng, do đó có tên là “mật đất” hay “mật cá”. Mùa hoa quả vào tháng 9 - 11. Cây mọc hoang dại ở những nơi ẩm mát, ở khắp các miền rừng núi nước ta.

Bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây, có thể thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất là mùa hạ; phơi hay sấy khô, bảo quản nơi khô mát để sử dụng dần.

Cỏ mật cá có tác dụng thanh nhiệt giải độc.

Một số bài thuốc thường dùng

Bài 1: Chữa kém ăn, mất ngủ: Cỏ mật cá, bá tử nhân (trắc bách diệp), hạt táo chua (lấy nhân sao già), hoài sơn, hạt sen, mạch môn mỗi vị 10g. Tất cả cho vào ấm đổ 800ml nước, sắc còn 250ml nước, chia 2 lần uống trong ngày. Dùng liền 10 ngày.

Bài 2: Chữa đau bụng do giun: Cỏ mật cá 30g, bỏ gốc, rửa sạch, cho vào ấm đổ 500ml nước, sôi, đun nhỏ lửa còn 150ml nước đặc, uống lúc đói bụng, dùng liền 3 ngày.

Bài 3: Ăn uống khó tiêu, tăng cường tiêu hóa: Cỏ mật cá sao cho thơm 100g, rượu trắng 1 lít, đường hay mật ong 300g. Cho cỏ mật cá vào bình, đổ rượu, mật ong vào ngâm, mỗi ngày lắc 1 lần, ngâm trong 15 ngày trở lên. Mỗi ngày uống 1 chén con (khoảng 20ml) trước bữa ăn cơm.

Bài 4: Chữa tiểu tiện sẻn đỏ do nhiệt: Cỏ mật cá tươi, chừng 1 nắm (khoảng 20 - 30g), sắc nước uống trong ngày. Rửa sạch, đổ 700ml nước đun nhỏ lửa còn 250ml nước đặc, uống lúc đói bụng, dùng liền 10 ngày.

Bài 5: Chữa thiếu máu, người mệt mỏi, kém ăn (có thể dùng cho sản phụ sau sinh): Cỏ mật cá 10g, sâm đại hành 10g, nghệ vàng 20g. Mật cá rửa sạch cho 800ml nước đun nhỏ lửa còn 200ml; sâm đại hành và nghệ vàng thái nhỏ, sấy khô, tán bột, uống cùng với nước sắc cỏ mật cá. Ngày 1 lần, trước ăn 30 phút, dùng liên tục 7 - 10 ngày.

Bác sĩ Trần Thị Hải

Ngâm chân chữa chứng mất ngủ

Khi lâm vào tình trạng này, thông thường người ta hay sử dụng các thuốc trấn tĩnh, an thần của y học hiện đại. Nhưng, không hiếm khi, các thuốc này cũng tỏ ra bất lực, đó là chưa kể đến những tác dụng không mong muốn mà chúng đem lại. Lúc này, nhiều khi, những biện pháp giàu tính tự nhiên của y học cổ truyền như xoa bóp, bấm huyệt, tập luyện khí công dưỡng sinh... lại tỏ ra có vai trò khá hữu hiệu, trong đó không thể không kể đến phương pháp ngâm chân trước ngủ mà Đông y gọi là Dược dục liệu pháp. Có thể dẫn ra một số công thức cụ thể như sau:

Công thức 1: Nước ấm tự nhiên 1 chậu, ngâm cả hai chân trong 20 phút, mỗi ngày 1 - 2 lần nhưng nhất thiết phải có 1 lần trước khi ngủ tối, đúng như cổ nhân đã nói: “Sau ăn 300 bước, trước ngủ một chậu ngâm”. Tùy theo điều kiện thời tiết và tính mẫn cảm của từng người, nhiệt độ nước ngâm vào khoảng từ 38 - 430C.

Nước sắc ngô thù du làm cho hai tạng Tâm và Thận giao hòa giúp cải thiện giấc ngủ sâu.

Nước sắc ngô thù du làm cho hai tạng Tâm và Thận giao hòa giúp cải thiện giấc ngủ sâu.

Công thức 2: Ngô thù du 20g, dấm gạo lượng vừa đủ. Sắc kỹ ngô thù du lấy nước bỏ bã rồi hòa thêm dấm gạo, ngâm cả hai chân trong 30 phút, mỗi ngày 1 lần trước khi ngủ tối. Theo y học cổ truyền, công thức này có tác dụng làm cho hai tạng Tâm và Thận giao hòa được với nhau, từ đó làm cho giấc ngủ có chất lượng hơn.

Công thức 3: Từ thạch 20g, chích ngũ gia 20g, phục thần 15g, ngũ vị tử 10g. Trước tiên, sắc từ thạch trong 30 phút rồi cho các vị thuốc khác vào sắc tiếp 30 phút nữa là được, bỏ bã lấy nước ngâm chân trong 20 phút, mỗi tối 1 lần kết hợp với việc dùng nước thuốc xoa nhiều lần lên vùng trán và thái dương.

Công thức 4: Từ thạch 20g, sinh long cốt 15g, cúc hoa 15g, hoàng cầm 12g, dạ giao đằng 20g. Tất cả các vị đem sắc lấy nước ngâm chân mỗi tối trước khi đi ngủ trong 30 phút. Công thức này rất thích hợp cho những người bị mất ngủ kèm theo đau đầu, hay có cơn bốc hỏa, trong ngực bụng cồn cào, bức bối không yên...

Công thức 5: Đan sâm 20g, bạch truật 15g, hoàng liên 12g, viễn chí 10g, toan táo nhân 15g, trân châu mẫu 10g. Tất cả các vị thuốc đem sắc kỹ lấy nước ngâm chân trong 30 phút, mỗi ngày 1 lần trước khi ngủ tối.

Thảo quyết minh.

Thảo quyết minh.

Công thức 6: Lạc tiên 20g, lá vông 20g, thảo quyết minh 20g, hồng hoa 15g. Tất cả đem sắc kỹ lấy nước ngâm chân trong 30 phút, trước khi đi ngủ. Cũng có thể dùng dịch thuốc để uống thay nước hàng ngày.

Công thức 7: Toan táo nhân 20g, mẫu lệ 20g, thạch quyết minh 20g, long cốt 20g. Tất cả đem sức lấy nước ngâm chân 30 phút hàng ngày trước khi đi ngủ.

Để làm tăng công dụng tĩnh tâm an thần, trong khi ngâm chân nên kết hợp với thư giãn, toàn thân thả lỏng, thở đều, nhẹ và sâu. Sau đó, có thể dùng các ngón tay day ấn vùng thái dương, miết vùng trán và xoa xát vùng gáy trong vài phút. Đương nhiên, việc điều chỉnh chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chủ động điều tiết đời sống tình cảm, hạn chế đến mức thấp nhất các yếu tố làm căng thẳng thần kinh... là không thể thiếu được.

ThS. Hoàng Khánh Toàn

Cá khoai

Theo Đông y, cá khoai vị ngọt, tính mát, không độc, tác dụng bổ hư, mát huyết, nhuận tràng, ích ngũ tạng... Ăn rất tốt với người gầy nóng, huyết hư, vị nhiệt miệng khô khát, táo bón, ho khan, đái tháo đường... Sau đây là một số món ăn thuốc từ cá khoai:

Canh cá khoai nấu rau cải cúc: cá khoai, cải cúc, gừng, hành gia vị vừa đủ nấu canh ăn. Công dụng: bổ phế, nhuận táo, chỉ khái… Chữa phế nhiệt ho khan, viêm.

Lẩu cá khoai tốt cho người mệt mỏi đau đầu, chóng mặt.

Lẩu cá khoai tốt cho người mệt mỏi đau đầu, chóng mặt.

Cá khoai nấu rau cần: cá khoai, cà chua, rau cần ta, thì là, mùi tàu gia vị vừa đủ nấu canh ăn. Công dụng: bổ huyết, mát huyết, dưỡng tỳ vị… Chữa chứng nội nhiệt khó lên cân, đau đầu chóng mặt, tăng huyết áp, ho khan, đại tiểu tiện không thông.

Lẩu cá khoai: cá khoai, xương lợn, giá đậu, dứa, cà chua, ớt, đậu phụ, ớt, gia vị vừa đủ nấu lẩu ăn. Rau ăn lẩu là cải cúc, rau muống. Công dụng: bổ hư, mát huyết, sinh tân… Chữa đái tháo đường, sắc mặt hình thể khô khan, người mệt mỏi, đau đầu chóng mặt.

Canh chua cá khoai: cá khoai, dứa, cà chua, dọc mùng, giá đậu, rau ngổ, hành lá, ớt, gia vị vừa đủ nấu canh ăn. Công dụng: bổ huyết, thanh nhiệt, hạ khí... Trị táo bón, tiểu vàng ít, đau đầu chóng mặt, tăng huyết áp và các chứng liên quan nóng nhiệt.

Cháo cá khoai: cá khoai, gạo mới, đậu xanh, hành, ngò mùi, tiêu, mắm muối gia vị vừa đủ. Cá khoai tươi làm sạch cắt khúc, khi cháo chín bỏ cá vào, nêm gia vị ăn nóng. Công dụng: bổ hư, dưỡng tỳ vị, sinh tân… Thích hợp người già ăn kém, mệt mỏi, chứng phù do suy dinh dưỡng, trẻ em còi cọc chậm lớn.

Lương y Phan Thị Thạnh

Món ăn thuốc từ quả thanh long

là món ăn vị thuốc phòng trị bệnh tiểu đường, thống phong, huyết áp, mập phì...

Theo dược tính hiện đại, trong 100g trái thanh long, phần ăn được cung cấp 85 - 87g nước; 1,1g đạm; 0,0g chất béo; 11,2g đường chung; 0,59g tro; nhiều vitamin và chất khoáng: 0,011mg vitamin A; 3mg vitamin C; 2,8mg vitamin PP; 10,2mg canxi; 6,07mg sắt; 27,5mg photpho; 27,2mg kali; 2,9 mg natri; cung cấp 40 - 60 calo. Quả chín thanh long chứa nhiều chất nhầy pectin, chất xơ hoà tan và chất xơ không tan cellulose đều là chất có tác dụng phòng trị bệnh táo bón, béo phì, xơ vữa động mạch, viêm ruột kết... rất hiệu quả. Thanh long còn là trái cây có chứa lượng đường thấp, giàu ma-nhê, nhiều vitamin và khoáng chất, lại ít năng lượng (40 - 60 calo) sinh nhiệt thấp, vậy nên ăn thanh long thường xuyên rất tốt cho người tiểu đường, người mập phì nóng nhiệt, đang cần giảm cân.

Sau đây là một số món ăn bài thuốc dược thiện phòng trị bệnh từ quả thanh long dễ chế biến sử dụng ăn rất ngon phù hợp với nhiều lứa tuổi.

Chữa táo bón kinh niên: Thanh long 200g, đu đủ chín 50g, thêm sapoche 50g, chuối 50g cắt thành miếng cho vào ly cho thêm đường cát, hoặc sữa cho tủ lạnh ăn ngày 1 - 2 lần.

Chữa tiểu đường: Thanh long 200g, ổi chín 100g, xay sinh tố hoặc ép nước uống ngày vài lần.

Chữa gan nhiễm mỡ, thừa cân béo phì: Thanh long 200g, dứa chín 100g, làm sinh tố hoặc ép nước uống nhiều ngày.

Chữa bệnh thống phong, gút: Thanh long 100g, dưa leo 100g cắt nhỏ cho thêm đường cát ăn hoặc ép nước uống nhiều ngày.

Chữa tăng huyết áp, đau đầu chóng mặt “do can hoả vượng”: Thanh long 200g, dưa hấu chín 100g cắt lát, dâu tây 50g xắt lát, làm sinh tố hoặc ép nước uống ngày 1 - 2 lần.

Chữa viêm đại tràng rối loạn tiêu hoá: Thanh long 100g thái thành miếng. Yaourt 1 hũ cho vào ly trộn thêm ít đá ăn ngày vài lần.

Chữa ho khan (viêm phế quản): Hoa thanh long tươi 4 - 5 cái tươi nấu canh với thịt heo hoặc sắc uống.

Lưu ý: thanh long có vị chua tính mát nên người tỳ vị hư hàn, đang đi cầu phân lỏng, đầy bụng, dùng hạn chế hoặc không nên dùng.

Lương y: Phan Thị Thạnh

Món ngon

Cá mực giá trị dinh dưỡng cao, rất tốt cho người thiếu máu, chóng mặt ù tai, di tinh, xuất tinh sớm, phụ nữ kinh nguyệt không đều, ít sữa...

Theo Đông y, cá mực vị ngọt mặn, tính bình; vào kinh can, thận, tỳ. Có tác dụng tư âm, dưỡng huyết, kiện tỳ, lợi thủy, chỉ huyết, ôn kinh mạch. Dùng tốt cho người bị phù nề, phong thấp, trĩ lậu, bế kinh thống kinh, huyết trắng, động thai dọa sẩy. Xin giới thiệu một số món ăn thuốc từ cá mực.

Cá mực hầm bí đao, đậu đỏ: Cá mực khô 2 - 3 con, bí đao 500g, đậu đỏ nhỏ hạt 100g. Cá mực ngâm mềm, rửa sạch, thái lát; bí đao gọt bỏ vỏ mỏng và ruột, cho gia vị nhưng không cho muối mắm, hầm chín nhừ, cho ăn liên tục đợt 3 - 5 ngày. Dùng cho các trường hợp viêm thận cấp, phù nề, cổ trướng xơ gan, ứ tắc sữa.

Cá mực hầm đào nhân: Cá mực khô 1- 2 con, đào nhân 15g. Cá mực ngâm mềm, rửa sạch, thái lát, thêm gia vị nấu nhừ, ăn liên tục đợt 3 - 5 ngày. Dùng cho các trường hợp bế kinh, thống kinh.

Gà hầm cá mực: Gà mái tơ 1 con, mực 2 con. Gà làm sạch, thái lát lớn, mực khô ngâm mềm, rửa sạch, thái lá; thêm gia vị hầm nhừ. Dùng cho phụ nữ, cơ thể suy nhược, khí hư huyết hư, sản phụ ít sữa tắc sữa.

Mực hầm đương quy: cá mực khô 2-3 con, quy đầu hoặc quy thân 30g. Mực ngâm mềm, rửa sạch, thái lát; quy rửa sạch, thái lát mỏng. Nấu nhừ. Dùng cho phụ nữ huyết hư thiếu máu, kinh nguyệt không đều, kinh nguyệt ít.

Canh súp mực thịt lợn: cá mực 2 con, thịt lợn nạc 100g, tôm nõn 100g, củ mài 30g, hạt sen bỏ tâm 30g. Mực làm sạch thái lát, thịt heo thái miếng, tôm nõn ngâm rửa, thêm gia vị và nước; nấu nhừ. Dùng rất tốt cho người mệt mỏi suy nhược, mất ngủ, ngủ mê.

Cá mực hầm đào nhân: cá mực khô 2 con, đào nhân 10g. Mực ngâm mềm làm sạch thái lát, đào nhân bóc vỏ rửa sạch cùng cho trong nồi nhôm, thêm gừng tươi, hành, muối, nước lượng thích hợp, đặt trên bếp đun to lửa cho sôi, đun nhỏ lửa cho chín nhừ. Cho ăn thường ngày, liên tục một đợt 7-10 ngày. Dùng cho các trường hợp huyết hư thiếu máu, kinh nguyệt thất thường, lượng ít.

Mực hầm gừng nướng: cá mực tươi khoảng 300g, gừng nướng 6g thái lát, hai thứ cùng cho vào nồi, đổ nước nấu chín, thêm bột gia vị. Ngày ăn 1 lần, liên tục 3-5 ngày. Dùng cho phụ nữ kinh nguyệt kéo dài nhưng ít, cơ thể suy nhược thiếu máu.

Lương y Thảo Nguyên